Cuộc chiến tranh đã đi qua 37 năm, nhưng hồi ức của nó vẫn còn đó. Biết bao người ra đi không trở lại, biết bao người về không lành lặn... Chúng tôi muốn điểm lại một góc nhỏ hẹp của chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh trên đất Thủ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh dai dẳng, khốc liệt mà nhân dân tỉnh nhà đã dốc sức người, sức của làm nên thắng lợi.
Sau khi quân giải phóng làm nên chiến công, giải phóng vùng Tây nguyên rộng lớn và thành phố Đà Nẵng..., ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị họp bàn và khẳng định: “Cuộc chiến tranh cách mạng không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi”. Thống nhất với sự khẳng định trên, ngày 2-4-1975, Trung ương cục miền Nam đã chỉ thị cho các tỉnh và lực lượng vũ trang trên toàn miền Nam: “...táo bạo đánh các điểm then chốt kể cả tiểu khu, thị xã khi có thời cơ đến...” và “bằng tất cả khả năng sẵn có của địa phương mà mạnh dạn, táo bạo phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa ấp giải phóng ấp, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh bằng lực lượng của bản thân phối hợp với chiến trường chung”.
 |
|
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30-4-1975) đã giải phóng hoàn toàn
miền Nam thống nhất đất nước
|
Vận dụng sự chỉ đạo của cấp trên, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đứng đầu là đồng chí Nguyễn Văn Luông (Sáu Phát), bí thư và hai đồng chí phó bí thư Bùi Xuân Thuận, Nguyễn Văn Hữu (Một Hữu) dựa vào sự chủ động sáng tạo của mình tìm ra cách đánh ít thắng nhiều, yếu thắng mạnh. Không có cách nào khác hơn làm theo sự chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ có súng không chưa đủ mà phải biết khơi dậy ý thức dân tộc trong hàng ngũ kẻ thù. Tỉnh ủy căn cứ vào tương quan lực lượng trên địa bàn tỉnh nhà cùng với diễn biến cụ thể trên chiến trường chung, ra văn bản chỉ đạo khẩn trương tấn công binh vận nhằm tiếp tục làm tan rã hàng ngũ quân đội Sài Gòn, làm thay đổi nhanh chóng so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng, bất lợi cho kẻ thù, tạo thời cơ giải phóng tỉnh nhà. Lúc bấy giờ khái niệm “gia đình đau khổ” được dùng trên báo chí và đài phát thanh để mô tả gia đình binh lính, sĩ quan trong quân đội Sài Gòn.
Ban lãnh đạo công tác binh vận các cấp được hình thành từ các quận đến tỉnh với sự phối hợp chặt chẽ của ban binh vận, ban tuyên huấn và ban chỉ huy quân sự. Ban lãnh đạo này theo sát diễn biến tình hình hàng ngày kịp thời chỉ đạo tuyên truyền vận động gia đình binh lính, sĩ quan tiếp tay kêu gọi người thân rời bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân. Không phải bây giờ mới làm công tác binh vận mà binh vận là công tác thường xuyên từ lâu. Nhưng thời điểm đặc biệt này càng quan trọng và cấp bách hơn để đẩy nhanh quá trình sụp đổ của quân đội Sài Gòn. Việc ném bom dinh Độc Lập của trung úy phi công Nguyễn Thành Trung gây chấn động tâm lý hoang mang của quân địch nhất là cánh cửa thép Xuân Lộc bị quân giải phóng mở tung (21-4-1975) sau 13 ngày đêm chiến đấu ngoan cường là thời cơ rất tốt làm công tác binh vận có hiệu quả nhất. Kết hợp với 10 điểm chính sách thấu tình đạt lý của Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam về hòa giải và hòa hợp dân tộc, tất cả cán bộ, chiến sĩ cùng với nhân dân đã vận động người thân kêu gọi binh lính, sĩ quan rời bỏ hàng ngũ địch về với gia đình hoặc án binh bất động làm tan rã nhanh chóng quân đội Sài Gòn. Ngay cả đại tá Nguyễn Văn Của, tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương cũng đã nhen nhóm ý thức dân tộc trở về với cách mạng để tránh đổ máu. Theo anh Trần Văn Quý, một nhà giáo yêu nước - cơ sở ngành giáo dục tỉnh - cho biết trong tháng 4-1975, anh thường xuyên tiếp xúc với tỉnh trưởng Của, anh dùng thuyết nhân quả của nhà Phật và chính sách 10 điểm về hòa giải và hòa hợp dân tộc của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam để cảm hóa người thân (tức tỉnh trưởng). Sau đó những ngày cuối tháng 4-1975, anh Quý được tỉnh trưởng cử làm đặc phái viên vào vùng giải phóng 2 lần bàn việc đầu hàng cách mạng. Lần thứ hai anh gặp đuợc đồng chí Phan Văn Hiếu, Bí thư Huyện ủy Châu Thành mới được chuyển qua đồng chí Tỉnh đội trưởng Nguyễn Văn Hữu (Một Hữu) tại một căn cứ chỉ huy. Tại đây, anh Quý đã đề đạt ý định đầu hàng của tỉnh trưởng và đưa cả tầng số máy liên lạc cho 2 đồng chí Năm Thuận và Một Hữu. Đồng chí Một Hữu lặng người chỉ biết thốt lên một câu: “Rất cám ơn anh và mời anh ở lại đây với chúng tôi, chờ giải phóng rồi về!”. Đến chiều 28-4-1975, tôi - một phóng viên chiến trường tình cờ gặp anh Quý tại căn cứ chỉ huy mới nghe kể lại Đại hội Hội Nhà giáo yêu nước 1965 tại đồng Bồ Rô thuộc bắc Bến Cát mà anh là thành viên.
Binh vận là mũi đấu tranh lợi hại thông qua trái tim khối óc, có sức lay động lòng người làm cho đối phương án binh bất động. Nhờ vậy mà ban chỉ huy tỉnh đội lần lượt đưa lực lượng vũ trang của mình tiến sâu vào vùng ven, vùng tranh chấp áp sát địch chờ thời cơ nổ súng phối hợp với chiến trường chung. Sau cuộc chiến, đồng chí Một Hữu mới tiết lộ là những ngày tháng tư cứ đầu giờ là phải báo cáo về trên, vị trí và tọa độ đóng quân của các lực lượng vũ trang tỉnh. Đến khi chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh mở ra, quân đoàn chủ lực tràn xuống huyện Châu Thành làm bàn đạp tiến vào Sài Gòn - sào huyệt cuối cùng của địch. Tiểu đoàn Phú Lợi 2 kịp thời phối hợp với quân chủ lực tấn công tiêu diệt gọn tiểu đoàn bảo an cơ động 306 của địch đêm 26-4-1975, bắt 17 tù binh, thu 90 súng các loại làm chủ đoạn đường 16 từ Tân Uyên đi Bố Lá hỗ trợ tích cực nhân dân nổi dậy phá bỏ 2 “ấp chiến lược” Bình Mỹ, Bình Cơ, mở đường cho Quân đoàn 1 đi vào Sài Gòn.
Phối hợp với quân chủ lực, các lực lượng vũ trang Bến Cát cùng với du kích và bà con nổi dậy ép các nơi đóng quân của Tiểu đoàn bảo an 361 kêu gọi anh em binh lính, sĩ quan rời bỏ hàng ngũ địch. Hưởng ứng lời kêu gọi của nhân dân, hàng loạt binh lính, sĩ quan bỏ súng tháo chạy về gia đình, các chiến sĩ quân giải phóng truy thu hàng trăm súng, giải phóng 3 xã tây nam Bến Cát. Thừa thắng bộ đội Bến Cát bao vây, uy hiếp căn cứ Lai Khê, chỉ huy sở sư đoàn 5 Sài Gòn kêu gọi anh em bỏ ngũ tìm đường sống. Binh lính, sĩ quan Sư đoàn 5 vứt súng, băng đồng bỏ chạy hàng đoàn như rắn mất đầu... quân giải phóng tiếp quản căn cứ Lai Khê, thì Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 là chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ đã tự sát từ bao giờ. Chính Vỹ đã từng ra lệnh cho sĩ quan cấp dưới phải quyết chống cộng cho đến viên đạn cuối cùng không rút lui, không đầu hàng, thà chết tại chỗ. Riêng tiểu đoàn Phú Lợi 3 vừa được thành lập ngày 28-4-1975 đã cắt ra 100 quân do đồng chí Huỳnh Tư, Tỉnh đội phó chỉ huy dẫn đường thiết đoàn xe tăng thuộc Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1) do thiếu tướng Nguyễn Chuông, Tư lệnh sư đoàn tới rừng Vĩnh Lợi chiều 28-4-1975 trực chỉ vào Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Trên đường hành quân thần tốc, đoàn tăng quân giải phóng đạp bằng mọi chướng ngại tiêu diệt chi khu quân sự huyện Tân Uyên ngay trong đêm. Sáng ngày 29-4, lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ tích cực nhân dân nổi dậy kêu gọi binh lính, sĩ quan buông súng đầu hàng, làm chủ hoàn toàn quận lỵ.
Chiều cùng ngày, Tiểu đoàn Phú Lợi 2 do đồng chí Nguyễn Chánh Khuyên làm tiểu đoàn trưởng và đồng chí Châu Trung, tiểu đoàn phó hành quân cấp tốc xuống đình Phú Văn án ngữ đường 13 ngăn chặn đường ứng cứu của địch Sài Gòn - Bình Dương; đồng thời phối hợp với Tiểu đoàn Phú Lợi 3 áp sát các vị trí then chốt của địch trong nội ô tỉnh lỵ làm đòn xeo cho các mũi chính trị chiếm lĩnh và tiếp quản các cơ quan đầu não tỉnh Bình Dương. Tiểu đoàn Phú Lợi 1 là lực lượng nòng cốt cơ động, tiểu đoàn trưởng là đồng chí Nguyễn Văn Hóa, chính trị viên là đồng chí Bảy Liễu hành quân bôn tập cùng với thiết đoàn xe tăng thuộc sư đoàn 320B từ xã Vĩnh Tân chiều 29-4-1975 tràn xuống Lái Thiêu. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn Phú Lợi tấn công trường huấn luyện quân sự Huỳnh Văn Lương. Vừa nổ súng, quân địch đã buông súng đầu hàng, bỏ chạy tán loạn, các chiến sĩ quân giải phóng cùng với nhân dân địa phương bắt hàng ngàn tù binh, tổ chức học tập tại chỗ rồi cho về nhà. Cùng lúc tiểu đoàn triển khai đội hình chiếm lĩnh chi khu quân sự Lái Thiêu, hỗ trợ nhân dân vùng lên giải phóng quận lỵ Lái Thiêu lúc 10 giờ ngày 30-4-1975. Chỉ riêng thiết đoàn xe tăng, Sư đoàn 320B trên đường tiến về Sài Gòn đụng độ với xe tăng địch trên đoạn đường 13 từ Bình Dương đi Sài Gòn (khoảng gần ngã ba Cây Liễu). Bọn địch lớp chết lớp bỏ tăng chạy lấy thân, nhiều chiếc tăng bị hư hại bỏ lại bên đường; đoàn tăng quân giải phóng cứ tiến thẳng vào Sài Gòn đúng giờ quy định nhờ hai cô gái an ninh tự vệ Lái Thiêu trèo lên xe tăng dẫn đường, trong đó có chị Mỹ (nguyên Phó Giám đốc Công ty Du lịch tỉnh).
Đại đội đặc công 73 do đồng chí Sáu Bền chỉ huy cùng với bộ đội địa phương huyện Dĩ An uy hiếp chi khu quân sự, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giải phóng huyện nhà. Cùng thời gian, nhân dân huyện Châu Thành nổi dậy chiếm lĩnh chi khu quân sự, đập tan bộ máy kềm kẹp của địch, phá banh “ấp chiến lược”, xóa sổ hệ thống “ấp chiến lược” và khu trù mật của địch đã dày công xây dựng.
Nhịp nhàng với mũi đấu tranh vũ trang, các mũi đấu tranh chính trị ồ ạt xuống đường sẵn sàng chiếm lĩnh tỉnh lỵ Bình Dương. Chiều ngày 26-4-1975, từ các căn cứ kháng chiến, vùng giải phóng, Tỉnh ủy tổ chức và phân công cụ thể 7 đội công tác cùng với Thị ủy Thủ Dầu Một có nhiệm vụ chiếm lĩnh và tiếp quản các cơ quan đầu não của địch. Mũi đông bắc do đồng chí Mai Thanh Chí (Bảy Chí) chỉ huy; mũi chính đông do đồng chí Huỳnh Văn Tấn, Bí thư Thị ủy có nhiệm vụ chiếm lĩnh nhà việc Phú Cường; mũi phía bắc do đồng chí Út Cao; mũi phía nam do đồng chí Nguyễn Văn Lực; mũi phía tây do đồng chí Tư Hoàng...
Nhìn chung, các mũi đều áp sát mục tiêu đêm 29-4 và đến sáng ngày 30-4 tiếng pháo và súng còn nổ lai rai và ngày càng thưa dần. Người ta thấy trên đường 13 có một chiếc xe zeep quân sự bị tổ an ninh tự vệ chặn lại ngay trước Bưu điện tỉnh hiện nay. Tổ này do chị Cẩm Vân chỉ huy, sau khi làm việc xong, chị cho tài xế của đại tá Của xuống xe, thay vào đó một tài xế cách mạng là anh Nguyễn Văn Phi, có nhiệm vụ đưa 3 sĩ quan trên xe vào ngã ba Phú Thuận để đầu hàng... Chưa đến nơi, tỉnh trưởng Của đã hốt hoảng la lên và cho xe dừng lại, vì có mìn ở phía trước. Chiếc xe quay đầu về Bệnh viện 4 dã chiến của địch lại gặp đồng chí Bảy Tấn và chị Cẩm Vân ở đó. Cả hai cùng lên xe zeep chạy thẳng về nhà việc Phú Cường giao luôn 3 sĩ quan cho đồng chí Bảy Tấn, rồi anh Phi lại đưa đồng chí Út Cao về Phú Thuận, thì y như rằng mìn đã nổ phía trước làm tan xác chiếc xe lam và người lái xe; nhưng còn may mắn là chiếc xe không có hành khách. Anh Phi thuộc một gia đình truyền thống cách mạng quê xã Mỹ Phước (Bến Cát), có người em ruột là Út Khanh công tác Ban an ninh tỉnh móc nối giao việc cho anh từ 1972 tại rừng Chú Hỏa; anh rể là liệt sĩ Trương Văn Quăng (tức Ba Quăng) Tiểu đoàn trưởng Phú Lợi, Trung đoàn phó Trung đoàn Đồng Nai và anh ruột là liệt sĩ Nguyễn Văn Phận, Đại đội trưởng Đại đội 61 Bến Cát. Mẹ anh cũng bị pháo địch bắn chết nắm 1972 tại làng Mỹ Thạnh (nay là thị trấn Mỹ Phước).
Trời xui đất khiến, đặc phái viên của tỉnh trưởng gặp lại tỉnh trưởng tại nhà việc Phú Cường khoảng 11 giờ 30 phút. Hai bên chào hỏi lễ phép, đại tá Của trịnh trọng nói: “Thưa dượng Hai, con và 2 đại tá này chạy tìm chỉ huy tiền phương cách mạng trình diện thì gặp mấy chị cán bộ này (tức chị Cẩm Vân và một số chị khác)”. Anh Quý trả lời vội vã: “Tôi là người của cách mạng xin ghi nhận sự đầu hàng của đại tá và 2 đại tá cùng đi theo; kể từ giờ này 3 đại tá cứ yên tâm ở đây nghỉ ngơi, có mấy chị đây rồi cấp trên sẽ đến làm việc cụ thể sau”. Rồi anh chào tạm biệt 3 đại tá, bước nhanh qua ty giáo dục cách đó 30m... Cùng lúc, các mũi chính trị cũng đã tiếp quản nguyên vẹn các mục tiêu được phân công, nhân dân đã làm chủ hoàn toàn tỉnh lỵ Bình Dương trong nguyên vẹn. Các loa phóng thanh của cách mạng đi khắp trong đường phố thị xã kêu gọi anh em trong chính quyền và quân đội Sài Gòn ra trình diện cách mạng. Cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam phất phới tung bay trên đỉnh cột đồng hồ lòng chợ Thủ và trên nóc dinh tỉnh trưởng lúc 12 giờ ngày 30-4-1975...
HỮU QUANG
Theo: baobinhduong.org.vn