Liên kết website :












[ Đăng ngày: 18/05/2026 ]
   
 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên thời thơ ấu là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19/5/1890 tại quê ngoại – làng Hoàng Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay là xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan.
  • Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo gia đình vào Huế.
  • Năm 1901, bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh nặng và qua đời. Sau khi thân mẫu qua đời, Người theo cha về sống ở xã Kim Liên – quê nội với tên gọi mới là Nguyễn Tất Thành. 
  • Năm 1905, Nguyễn Tất Thành được phụ thân xin cho theo học lớp dự bị, Trường Tiểu học Pháp – bản xứ ở Vinh, tỉnh lỵ của Nghệ An. Đây là lớp học đầu tiên của bậc tiểu học, chương trình học nặng về tiếng Pháp.
  • Năm 1906, Nguyễn Tất Thành phải nghỉ học để chuẩn bị cùng cha lên đường vào Huế, thời gian đầu học trường Pháp – Việt, sau chuyển sang học Trường Quốc học Huế.
  • Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế, theo cha vào Bình Định.  
  • Đầu tháng 9 năm 1910, Nguyễn Tất Thành đến Phan Thiết, được giới thiệu làm trợ giáo, được giao dạy một số môn tại Trường Dục Thanh.
  • Tháng 02 năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn.
  • Ngày 05 tháng 6 năm 1911, với tên gọi Văn Ba, Người đã lên tàu Amiral Latouche Tréville rời bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) đi Marseille (Pháp), chuyến tàu đã mang theo người thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, thương dân, ấp ủ một hoài bão lớn lao để tìm hiểu nền văn minh của thế giới, ra sức học hỏi để về giúp nước.
  • Năm 1912, Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước của Châu Phi, Châu Mỹ. Đến năm 1913, Người sang Anh để học tiếng Anh và xem nước tự nhận là “mặt trời không bao giờ lặn” trên đế quốc của mình hiện tình ra sao.
  • Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp.
  • Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Đến tháng 6 năm 1919, tại Hội nghị các nước đế quốc họp ở Versailles, thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm (ký tên là Nguyễn Ái Quốc) đòi thừa nhận quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của dân tộc Việt Nam.  
 
  • Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, cùng với việc tích cực tham gia các hoạt động thực tế trong Đảng xã hội Pháp, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
  • Năm 1921 cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa.
  • Tháng 4 năm 1922, Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc đã được đưa vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản tại Paris năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, góp phần thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.
  • Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc lên tàu rời Pháp sang Liên Xô. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Tiếp đó Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ.
  • Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu. Tại đây, Người lấy bí danh là Lý Thụy, làm phiên dịch trong văn phòng Đoàn cố vấn Bôrôđin của chính phủ Liên Xô.
  • Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Người vạch ra cho tổ chức một kế hoạch hành động cụ thể, đồng thời mở các lớp huấn luyện chính trị, trực tiếp làm giảng viên chính. Tháng 6 năm 1925 ra tờ báo Thanh niên, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh”, được xuất bản năm 1927.
  • Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Liên Xô, sau đó đi Đức (tháng 11 năm 2027) rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc (tháng 12 năm 2027), sau đó quay lại Đức, đi Thụy Sĩ, sang Italia.
  • Tháng 7 năm 1928, Nguyễn Ái Quốc tới Xiêm (Thái Lan), cuối năm 1929 Người trở lại Trung Quốc.
  • Từ 06 tháng 01 đến 07 tháng 02 năm 1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
 
  • Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông.
  • Cuối năm 1932, Người được trả tự do.
  • Từ năm 1934-1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.
  • Tháng 10 năm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.
  • Năm 1941, Người trở về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Tháng 5 năm 1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Khuổi Nậm (Pác Pó, Cao Bằng). Hội nghị đã xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa giành Chính quyền trong cả nước.
  • Tháng 8 năm 1942, Người lấy tên mới là Hồ Chí Minh, lên đường sang Trung Quốc với tư cách là đại biểu của phong trào Việt Minh và đại diện của Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược nhằm tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian 01 năm 14 ngày bị giam cầm đày đọa, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 134 bài thơ chữ Hán theo các thể tứ tuyệt, ngũ ngôn, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt liên hoàn.
  • Tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.
  • Tháng 9 năm 1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Pác Pó (Cao Bằng). Tháng 10 năm 1944, Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào toàn quốc. Người phân tích tình hình và dự đoán thời cơ của cách mạng Việt Nam đang đến gần. Ngay sau đó, Người quyết định thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách.
  • Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.     
  • Tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
 
  • Năm 1945-1946, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo Nhân dân xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đối phó với thù trong giặc ngoài, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”; tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội Khóa I (1946) đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
  •  Ngày 02 tháng 03 năm 1946, Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
  •  Ngày 03 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ tháng 11/1946 – đến tháng 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
  • Tháng 02 năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
 
  • Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Geneve về Đông Dương đã được ký kết, theo đó các nước thừa nhận và tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia; ngừng bắn trên toàn chiến trường Đông Dương, Pháp rút quân về nước; vĩ tuyến 17 chỉ là ranh giới quân sự tạm thời giữa hai miền, sau hai năm sẽ tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.
  •  Tháng 10 năm 1956, tại Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử giữ chức Chủ tịch Đảng kiêm làm Tổng Bí thư của Đảng.
  •  Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  •   Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thắng lợi; đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) với các Đảng Cộng sản và Phong trào công nhân quốc tế.
  •   Ngày 02 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh mất tại Hà Nội. Sự ra đi của Người là mất mát vô cùng to lớn, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế.
 

CÁC TIN KHÁC